Nhóm 7 LK02 Hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu



Công ty X (Singapore) và công ty T (Việt Nam) là hai đối tác quen thuộc trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của hai bên vào ngày 10/1/2017 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:

X: Chúng tôi hiện đang có một lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cấp loại 1, giá 850USD/tấn giao tại cảng Singapore

T: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng giá 850USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750USD/tấn.

X: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh giá 800USD/tấn

T: Chúng tôi sẽ mở L/C cho các canh trong tháng này và rất mong anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới.

X: Chúng tôi đồng ý.

Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống còn 650USD/tấn, X gửi thông bác giao hàng cho bên T, bên T không có ý kiến gì. X tiến hành gửi hàng nhưng T đã không đưa tàu đến nhận hàng, X phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo L/C do đó cũng không được thanh toán. X đã kiện T ra tòa trọng tài ICC, yêu cầu bên T nhận hàng và bồi thường cho bên X:

Chi phí lưu kho do T đã không nhận hàng đúng thời hạn
Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà X đã đóng
Số tiền lãi theo giá trị của đơn hang tính từ khi X giao hàng đến khi T thực thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của X
Do không nhận được tiền hàng X không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. X yêu cầu T bồi thường về thiệt hại uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C.
Bên T kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: Theo các hợp đồng đã ký kết trước đây giữa 2 bên, hai bên luôn thỏa thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp này, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm các bên. Bên T không có nghĩa vụ phải nhận hàng.

Công ước Viên chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ 1/1/2017. Theo điều 5 khoản 1 Luật thương mại 2005: “Trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Trong trường hợp này nguồn luật được áp dụng sẽ là Công ước Viên năm 1980 do cả Việt Nam và Singapore đều là thành viên của Công Ước. Và theo Công ước, hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi nên trong trường hợp này, hợp đồng đã hình thành giữa hai bên.

Việc bên T không đến nhận hàng là đã vi phạm hợp đồng. hành vi này gây thiệt hại cho bên X nên việc bên X đòi T bồi thường là chính đáng. Tuy nhiên T chỉ phải bồi thường:

Chi phí lưu kho
Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng với lãi suất của ngân hàng Singapore vì đây là khoản lãi mất hưởng của bên X (nếu T thực hiện đúng hợp đồn thì X sẽ có số tiền này để gửi tại ngân hàng của mình tại Singapore)
Những khoản T sẽ không phải bồi thường:

Thuế XK và các lệ phí hải quan là không hợp lý do khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì nghĩa vị trên vốn dĩ thuộc về nhà xuất khẩu.
Những thiệt hại về uy tín và những khoản lợi dự tính là những thiệt hai không xác đáng do bên X không nhận được tiền từ T không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến X không thanh toán tiền cho bên C, do X hoàn toàn có thể huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán cho C.
Danh sách nhóm 7

1) Vũ Hữu Hiệp
2) Đinh VIệt Anh
3) Đinh Tuấn Anh
4) Ngô Anh Tuấn
5) Thịnh Phan Linh Chi
6) Hoàng Hồng Anh
7) Phạm Hà Anh
8) Nguyễn Bích Diệp

source: https://actingschoolrome.com

Xem thêm các bài viết về Bất Động Sản: https://actingschoolrome.com/category/bat-dong-san/

Leave a Reply